Nghệ thuật múa

Nhu cầu phát triển và phương hướng bảo tồn múa dân gian dân tộc

NHU CẦU PHÁT TRIỂN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG BẢO TỒN MÚA DÂN GIAN DÂN TỘC

ThS. Bùi Thuý Huyền

 

Múa dân gian là hình thái múa phổ biến của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, do dân chúng sáng tạo và được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Múa dân gian được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt văn hóa của các dân tộc, tiêu biểu cho bản sắc văn hoá của từng cộng đồng và là cơ sở để phát triển các hình thái múa khác. Múa dân gian của các dân tộc là nền tảng phát triển nghệ thuật múa chuyên nghiệp của nước nhà. Công tác đào tạo, biên đạo, nhạc công và diễn viên là bước khởi đầu để xây dựng nền tảng đó. Tuy nhiên, trong những năm gần đây công tác này còn nhiều bất cập trong tình hình phát triển nghệ thuật.

Cộng đồng 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều mang một bản sắc văn hóa riêng và bản sắc đó đã tạo nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng trong sự thống nhất. Và trong nền văn hóa ấy đã sản sinh ra một kho tàng múa dân gian các dân tộc hết sức phong phú và đặc sắc. Trên cơ sở đó, chúng ta đã tiến hành công tác nghiên cứu – sưu tầm để xây dựng nền nghệ thuật múa chuyên nghiệp, đồng thời đẩy mạnh công tác đào tạo về huấn luyện các nghệ sĩ múa qua các thời kỳ.

Như chúng ta biết, trên những dải núi hiểm trở, hùng vĩ của miền Tây Bắc xa xôi ta sẽ không thể quên những điệu múa kiếm của người Dao, múa cờ của người Mường, múa trống của người Hà Nhì hay điệu múa xoè của những cô gái Thái duyên dáng... Múa kiếm của người Dao miêu tả những tuyến đi dài, lắt léo, biến hoá tuỳ hứng, lúc phát cây mở đường, lúc đâm chém thú dữ, lúc bị kẻ thù cản đường, lúc xông lên giết giặc..., cùng với các điệu múa là dàn trống, chiêng, thanh la, kèn loa thôi thúc, cuốn hút càng làm cho điệu múa thêm sinh động, biểu cảm và khích lệ nhiệt huyết rất mạnh mẽ. Múa cờ của người Mường lại trang trọng, bề thế, mực thước. Người múa khi nhấc cờ, bật cờ xuống, khi quấn cờ, dựng cờ lên... Đội hình múa lên tới 60 - 70 người theo một bố cục rất hoành tráng, biểu thị uy quyền nhà lang. Còn múa trống của người Hà Nhì có động tác nhanh, đột biến, lúc lùi ra, lúc áp vào mặt trống. Toàn thân người múa rung lên với một sinh lực dồi dào. Người múa như hiến mình cho nhịp điệu và tiếng trống, cho hồn thiêng của điệu múa. Múa trống là biểu tượng của sức mạnh và niềm vui chiến thắng.

Vào miền duyên hải Nam Trung bộ ta bắt gặp điệu múa Chăm, một nét đặc trưng của văn hoá Chăm. Múa Chăm là một loại hình nghệ thuật đặc sắc, nhạc cụ chính của múa Chăm gồm trống Paranưng, kèn Saranai và trống Ghinăng. âm thanh của hai loại trống này rất đặc biệt, nó không mang cảm giác sôi động, giục giã như các loại trống khác mà thâm trầm, huyền bí đi sâu vào nội tâm con người. Vũ điệu múa Chăm thường bắt nguồn từ những động tác lao động, sinh hoạt thường ngày và đều phản ánh những ước vọng của con người trước thần linh, thiên nhiên và cuộc sống cộng đồng. Những điệu múa ấy thể hiện sự cầu mong cho mưa thuận gió hoà, con cháu khoẻ mạnh, yên ổn làm ăn và thờ phụng tổ tiên, nhưng cũng có những điệu múa thể hiện ý chí quật cường sẵn sàng đương đầu mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống.

Vùng Tây Nguyên lại có những điệu múa gắn liền với những trường ca, sử thi anh hùng của dân tộc mình. Đặc trưng nhất là điệu múa khiên của người Ê-đê, một hình thức múa võ có lịch sử lâu đời và tồn tại đến ngày nay. Người múa mặc trang phục khá đặc trưng, đầu quấn khăn đỏ, thả hai đuôi khăn về phía trước trán, mặc áo hở ngực, đóng khố Kơtel, tay trái cầm khiên, tay phải cầm gươm, nhảy múa với động tác mạnh mẽ đầy uy lực, nhưng phải phối hợp với âm nhạc lúc trầm, bổng, lên cao. Múa khiên thường múa thành từng cặp, từng nhóm. Vì vậy, người múa phải có sự phối hợp hài hoà và chính xác để tránh những va chạm tai nạn. Điệu múa này thường được sử dụng trong các nghi lễ như đâm trâu, bỏ mả...

Xuất hiện rất sớm với loại hình sân khấu Rơbăm - loại kịch vừa múa vừa hát cổ điển, đặc trưng của nền văn hoá Khmer Nam Bộ. Cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á, tuy chịu ảnh hưởng của văn hoá ấn Độ, nhưng văn hoá Khmer lấy nghệ thuật múa làm ngôn ngữ chủ đạo để diễn tả tâm trạng, tình huống, tuồng tích. Rơbăm phần lớn là những cốt truyện mang truyền thuyết thần thoại cho nên múa càng có điều kiện phát huy một cách mạnh mẽ ở loại hình sân khấu này. Đây là loại hình sân khấu độc đáo của người Khmer Nam Bộ, vừa có phần lời hát, vừa có điệu múa kèm theo và là hình thức sân khấu mặt nạ. Khi biểu diễn, các nhân vật đều mang mặt nạ như khỉ Hanuman, chằn tinh, ngựa, voi... và các nhân vật như ông vua, hoàng tử, công chúa. Loại hình nghệ thuật Rơbăm của người Nam Bộ trước đây là hình thức cung đình, sau đó phát triển trong dân gian và dần trở thành phổ biến.

Ngay từ những ngày đầu xây dựng nền nghệ thuật múa chuyên nghiệp, chúng ta đã có nhiều tác phẩm múa mang đặc trưng của các dân tộc được xây dựng trên chất liệu múa dân gian như: Tuần đuốc, Câu chuyện bên dòng sông, Sắc bùa, Gái làng, Hương xuân (dân tộc Việt); Mùa ban nở, Xòe nhạc (dân tộc Thái); Xòe chiêng, Khúc dạo đàn, Then (dân tộc Tày); Múa chuông (dân tộc Dao);  Khát vọng, Khúc biến tấu từ pho tượng cổ (dân tộc Chăm); Cánh chim và ánh sáng mặt trời (dân tộc Khmer); Tiếng gọi nơi hoang dã (dân tộc Ê Ðê); múa ô, khèn, gậy tiền  (dân tộc Mông)...

Việc khai thác chất liệu múa dân gian đồng thời được sử dụng trong các giáo trình giảng dạy nghệ thuật múa của Trường Cao đẳng múa Việt Nam, Trường múa TP Hồ Chí Minh và các trường văn hóa nghệ thuật ở các địa phương. Cho đến nay, chúng ta đã khai thác chất liệu múa dân gian của 20 dân tộc. Những năm gần đây, công tác đào tạo múa dân gian dân tộc đã có nhiều cố gắng và đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập. Trước hết về giáo trình, chúng ta mới hoàn thiện được một số giáo trình của dân tộc Việt, Thái, Tày, Chăm, Bana nhưng chưa xây dựng được giáo trình của các dân tộc còn lại trong hệ thống giáo trình giảng dạy. Ðội ngũ giáo viên ngày càng vắng đi những nghệ sĩ lớn, những thầy cô giáo tâm huyết với nghề đã từng lăn lộn ở vùng sâu, vùng xa để sống và tìm hiểu cuộc sống của các dân tộc. Các thế hệ giáo viên kế tiếp cứ dạy truyền nghề, trước học được như thế nào nay dạy lại như thế… Nhiều giáo viên trẻ chưa từng có điều kiện đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tìm hiểu về đời sống sinh hoạt thường ngày, vì vậy không nắm được nguồn gốc, xuất xứ động tác, nội dung ý nghĩa của các điệu múa. Vấn đề đang nổi cộm là làm thế nào để thu hút được học sinh say mê học tập và phát triển tư duy, sáng tạo ? Suốt thời gian sáu, bảy năm học tập là một thử thách lớn đối với học sinh nghệ thuật múa, không chỉ học lý thuyết mà luôn luôn là sự thực hành vất vả, khổ luyện của nghề. Ấy vậy mà khi ra trường lại ít được sử dụng đúng với khả năng và những gì đã được tôi luyện trong nhà trường. Ðất của nghệ thuật múa đang dần bị thu hẹp trên các sàn diễn, nhiều khi chỉ để minh họa cho các tiết mục hát hoặc đồng diễn trong các lễ hội mới…

Ðể nâng cao chất lượng đào tạo múa dân gian của các dân tộc, GS.TS. NSND Lê Ngọc Canh đề xuất: “ Xây dựng giáo trình múa dân gian của các dân tộc kết hợp công trình nghiên cứu khoa học là một nhu cầu cấp thiết của đào tạo múa dân gian các dân tộc ở Việt Nam. Mặc dù trước đây, ở một số cơ sở đào tạo môn múa dân gian dân tộc, đã có sự kết hợp với công trình khoa học để tạo thành những giáo trình bằng văn bản, và giáo trình thực hành, song phần lớn các giáo trình đó chưa có tính thống nhất, tính quy phạm trên phạm vi toàn quốc ”. Đúng như vậy, để nuôi dưỡng khát vọng và ước mơ của thầy và trò ở các cơ sở đào tạo, nghệ thuật múa cần được phát triển rộng rãi trong đời sống xã hội. Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam đã cố gắng tổ chức những cuộc thi tác phẩm múa, thi tài năng trẻ  nhằm tạo điều kiện để học sinh tiếp cận với công chúng... Ðiều đòi hỏi ngược lại là nghệ thuật múa muốn đi sâu vào đời sống thu hút được đông đảo công chúng thì phải có tiết mục hay, nghệ sĩ giỏi, như vậy phải trở lại điểm xuất phát là công tác đào tạo.

Từ việc kế thừa, phát huy giá trị của kho tàng nghệ thuật múa truyền thống để sáng tạo nên những hình tượng độc đáo, đậm đà màu sắc dân tộc, nghệ thuật múa dân gian Việt Nam đang trong quá trình kế thừa và phát triển. Trên thực tế, việc đầu tư cho lĩnh vực này đến nay vẫn chưa đủ mạnh để vực ngành phát triển theo đúng nghĩa, có chăng chỉ là tính “tự phát” của bản thân.

Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, các luồng văn hoá nghệ thuật từ khắp nơi trên thế giới đang ào ạt tràn vào đất nước ta. Để giữ được nguyên giá trị, bản sắc văn hoá của các điệu múa dân tộc cần có một tư duy và tầm nhìn chiến lược cho sự phát triển của nền nghệ thuật múa Việt Nam, trong đó có việc đầu tư tài chính và đặc biệt là đầu tư cho lực lượng nghệ sĩ để không ngừng nâng cao chất lượng tác phẩm.

Dù trước mắt còn nhiều trở ngại khó khăn, song chúng ta vẫn hy vọng tới một tương lai tươi đẹp hơn của nền nghệ thuật múa Việt Nam. Vấn đề trọng tâm nhất là phấn đấu làm sao để xây dựng được nhiều tác phẩm múa dân gian thật sự mang đậm sắc thái dân tộc Việt Nam, nhưng phải đạt đến trình độ đẳng cấp quốc tế và phục vụ được đông đảo công chúng trong và ngoài nước.

 

 

Các tin liên quan