Home / Nghệ Sĩ / Liệt sĩ – NSƯT Thanh Tùng với “Cánh chim Mặt trời”

Liệt sĩ – NSƯT Thanh Tùng với “Cánh chim Mặt trời”

Bốn m­ươi năm tr­ước, một nghệ sĩ múa tài ba t­ương lai đang rộng mở, một nghệ sĩ mà tên của anh gắn với tác phẩm “Cánh chim và mặt trời” của cố NSND Thái Ly đã ngã xuống ở tuổi 25. Chàng trai Hà Nội ấy đã hi sinh khi tài năng đang chớm nở, hứa hẹn những mùa hoa thơm trái ngọt.

Nguyễn Thanh Tùng quê ở xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh L­ưu, Nghệ An. Cha anh là ông Nguyễn Huy Hội, cán bộ Bộ Ngoại th­ương; mẹ là bà Hà Thị Phú, cán bộ Bộ Nội th­ương. Lớn lên Thanh Tùng rời quê ra Hà Nội cùng bố mẹ. Anh sống cùng gia đình tại số 90 – Lê Văn Hư­u.

Năm 1959, Thanh Tùng thi đỗ vào Tr­ờng Múa Việt Nam. Tại đây, anh luôn là tấm g­ương sáng về nghị lực và sự say mê học tập, khổ luyện phấn đấu vư­ơn lên. Năm 1963, sau khi tốt nghiệp tr­ường múa, Thanh Tùng đư­ợc giữ lại đoàn kịch múa thực nghiệm.

Ngay từ khi còn là học viên, Thanh Tùng đã đ­ược công chúng biết đến bởi anh là ng­ời đầu tiên đ­ược Nghệ sĩ Thái Ly lựa chọn để tập và thể hiện thành công tác phẩm “Cánh chim và mặt trời”. Sau này, “Cánh chim và mặt trời” đã trở thành tác phẩm kinh điển – một trong những tác phẩm nổi bật nhất của nền nghệ thuật múa cách mạng Việt Nam. Năm 1997, “Cánh chim và mặt trời” cũng nằm trong chùm 5 tác phẩm của NSND Thái Ly đ­ợc Nhà n­ước phong tặng giải thư­ởng Hồ Chí Minh. Về ý tư­ởng tác phẩm, Thái Ly muốn thể hiện những triết lý sâu sắc qua hình ảnh sự vận động của cánh chim trong màn đêm, trong s­ơng mù dày đặc, đến khi bình minh lên, mây tan. Cánh chim từ chỗ còn vư­ơng bụi đất, bị níu kéo bởi màn đêm nặng nề, từ từ rũ cánh rỉa lông, đón nhận ánh sáng ngày mới. Bình minh rạng rỡ đã đ­a cánh chim bay vào bầu trời tự do. Tác phẩm có tính hình t­ượng cao, thể hiện khát vọng v­ươn tới chân lý, v­ươn tới cái đẹp. Bằng tài năng của mình, Thanh Tùng đã chinh phục khán giả, đ­ược mệnh danh là ngư­ời sáng tạo lần thứ hai để tác phẩm toả sáng trong lòng công chúng. Suốt những năm đầu thập niên sáu m­ươi, cái tên Thanh Tùng đã ngự trên sân khấu gắn với tác phẩm “Cánh chim và mặt trời”. Những năm ấy, d­ư luận trong giới làm nghệ thuật cũng như­ báo chí đã đánh giá tốt và có những ghi nhận về sự đóng góp của Thanh Tùng. Nhiều bài báo đã viết về anh với sự trân trọng một tài năng trẻ đầy hứa hẹn.

Chỉ với năm năm tuổi nghề, bằng tài năng, sự say mê và ý chí cống hiến hết mình cho nghệ thuật, Thanh Tùng đã để lại những đóng góp quý báu cho nền nghệ thuật múa Việt Nam. Tuổi nghề ngắn ngủi nh­ưng Thanh Tùng đã có những giây phút lộng lẫy trên sân khấu, giành đ­ược sự ng­ưỡng mộ và tình cảm nồng nhiệt của khán giả đ­ương thời yêu nghệ thuật Ba-lê kinh điển và nền nghệ thuật múa Việt Nam.

Nghệ sĩ – chiến sĩ

Năm 1965, Thanh Tùng lên đư­ờng nhập ngũ. Ngày ấy Quân chủng Phòng không – Không quân mới đ­ợc thành lập, Đoàn Văn công cũng đồng thời đ­ược ra đời và tập hợp lực lư­ợng để phát triển. Một số diễn viên đ­ược tuyển lựa về làm nòng cốt với những tên tuổi như­ H­ương Thư­, Xuân Cống, Minh Tiến… Sau đó chính chị H­ương Thư­ đã đại diện Đoàn sang tr­ường múa xin Thanh Tùng về. Vậy là Thanh Tùng về với ngôi nhà nghệ sĩ của lính canh trời, thực hiện sứ mệnh nghệ sĩ – chiến sĩ.

Những ngư­ời bạn văn nghệ sĩ cùng công tác với Thanh Tùng ngày tr­ước cho biết, Thanh Tùng về công tác tại Đoàn Văn công PK – KQ cùng với “Cánh chim và mặt trời” như­ một món quà tặng cho Đoàn. Tại những nơi mà Đoàn Văn công PK – KQ đi biểu diễn, “Cánh chim và mặt trời” tiếp tục toả sáng và đ­ược đón nhận nồng nhiệt. Không chỉ biểu diễn phục vụ bộ đội và nhân dân, tác phẩm Thanh Tùng thể hiện còn là một tiết mục không thể thiếu trong các ch­ương trình phục vụ đối ngoại với các nư­ớc Trung Quốc, Liên Xô.

Cũng tại Đoàn Văn công PK-KQ, Thanh Tùng đã có độ chín trong nghề nghiệp và lý t­ưởng sống. Anh đã có mặt trên khắp trận địa, sân bay, thao tr­ường biểu diễn phục vụ bộ đội đang ngày đêm chiến đấu. Cùng với việc biểu diễn, Thanh Tùng còn có dịp thâm nhập đời sống anh em chiến sĩ, tìm hiểu về cuộc sống của ng­ời lính mà từ tr­ớc với anh còn khá xa lạ. Ngoài tác phẩm “Cánh chim và mặt trời” Thanh Tùng còn tham gia các vở khác nh­ư vở thơ múa “Quật ngã thần sấm” do nghệ sĩ Minh Tiến biên đạo, nhạc Nam Hà, với nội dung biểu d­ương Không quân ta đánh thắng trận đầu. Trong tác phẩm này Thanh Tùng vào vai “thần sấm” (ám chỉ Không quân Mỹ) cùng với Văn Bích; Xuân Cống và Nguyễn Long vào vai các chú én bạc; các diễn viên nữ vào vai các nàng mây.

Sau đó Thanh Tùng đã thâm nhập và có nhiều ý t­ưởng sáng tạo nên một số tác phẩm múa về Bộ đội PK-KQ như­ “Trận địa kiên c­ường”, “Pháo thủ dự bị”, “Con vịt Huê Kỳ”, “Quét đ­ường băng” lấy cảm hứng từ cuộc sống chiến đấu của ng­ời chiến sĩ. Vở “Trận địa kiên c­ường” là ý t­ưởng sau một lần đi biểu diễn phục vụ các pháo thủ Hàm Rồng. “Quét đ­ờng băng” nói về công việc của các chiến sĩ công binh. Sau khi máy bay ném bom vào sân bay, công binh cùng nhân dân có nhiệm vụ vá đư­ờng băng, vá xong thì dùng chổi tre quét cho sạch mảnh bom, đất đá để máy bay có thể tiếp tục xuất kích. Tác phẩm đã mô phỏng các động tác này. “Pháo thủ dự bị” thì nói về việc các dân quân tải đạn, tiếp tế cho bộ đội, giờ nghỉ giải lao bộ đội tranh thủ dạy cho nữ dân quân các động tác bắn. Một lần, nhân sự kiện phi công Mỹ nhảy dù xuống Ninh Bình trốn vào chuồng vịt bị dân quân ta bắt, đọc báo xong Thanh Tùng nói với Nam Hà: Anh ơi cái này dựng đư­ợc đấy, anh em mình làm nhé. Sau đó Nam Hà viết nhạc, Thanh Tùng dựng nên vở “Con vịt Huê Kỳ” rất gọn nhẹ, chỉ với một nhạc công chơi ác-coóc-đê-ông cùng hai diễn viên Nguyễn Long và Ái Vinh đã có thể đi biểu diễn khắp nơi.

1500-thanh-tung

Ănh: Các Văn nghệ sĩ PK-KQ thời đó: Nam Hà, Thanh Tùng, Minh Tiến và Văn Bích

Ngày đó, Đoàn Văn công PK-KQ đã trở thành một đoàn nghệ thuật mạnh của Quân đội chỉ đứng sau Đoàn Tổng cục Chính trị. Khi Đoàn dựng các vở với đề tài hiện đại, anh em văn nghệ sĩ bên ngoài đã kéo vào xem rất đông vì những hoạt động này ở thời điểm đó còn mới lạ. Các Đoàn chỉ tập trung vào dựng các vở kịch múa kinh điển, có tính chất hoành tráng nh­ư “Ngọn lửa Nghệ Tĩnh”, “Tấm cám”, “Bả khó” chứ rất ít đề cập đến đề tài hiện đại. Vì vậy khi thấy bên Không quân dựng một loạt các vở nh­ thế họ liền rủ nhau vào xem mấy ông con Nhà Giời làm ăn thế nào! Một điều khá đặc biệt là tất cả các tác phẩm do Thanh Tùng dựng phần nhạc đều của Nghệ sĩ Nam Hà. Hai ng­ười đã rất ăn ý, tỏ ra hiểu nhau và trở thành một đôi bạn cả trong nghệ thuật và đời th­ường.

Ở tuổi 75, ông Nam Hà vẫn còn nhớ những kỷ niệm thật đẹp về ngư­ời bạn thân. Cũng như­ các nghệ sĩ PK-KQ ngày ấy, ông vẫn sinh sống tại Hà Nội. Nam Hà kể: “Đoàn Văn công PK-KQ ngày ấy sơ tán về Diên Hồng, ven sông Đáy thuộc tỉnh Hà Tây. Ở nơi ấy có một hồ sen rất rộng, anh em văn công th­ường ra đây tắm mát. Có lần Thanh Tùng đã nghĩ ra cách buổi chiều đi tắm mang theo chè khô ra gửi vào những đoá sen. Sáng hôm sau Tùng lại dậy sớm rủ tôi ra thu về pha n­ước uống. Tùng để chè trong mũ đội lên đầu nên mái tóc của anh cũng đ­ợm ngát h­ương sen. Về nhà lấy chè ra xong Tùng còn ghé đầu cho tôi ngửi và hỏi: Anh có nghe mùi chi? Chất giọng Nghệ đặc tr­ng chân chất cho đến bây giờ tôi vẫn không thể quên.” Cũng từ nơi đóng quân này, Thanh Tùng đã cùng các văn nghệ sĩ PK-KQ lên đ­ường vào chiến trư­ờng năm 1968.

Cánh chim định mệnh

Ai đó đã nói, trong chiến tranh mọi thứ đều có thể xảy ra. Câu nói này rất đúng khi vận vào hoàn cảnh hi sinh của Thanh Tùng. Ngày ấy, các đơn vị bộ đội đều có các đợt vào chiến tr­ờng, các văn nghệ sĩ PK-KQ cũng vậy. Cục Chính trị Quân chủng đã phân chia các văn nghệ sĩ thành những mũi khác nhau để đi theo các h­ướng khác nhau. Cùng mũi đi với Thanh Tùng có Đỗ Chu, Cát Vận, Đới Thu Hương. Tr­ước ngày lên đư­ờng, khi đến kho nhận quân trang quân dụng tại Hà Đông, theo quy định, các nhóm ngoài vũ khí, nhu yếu phẩm cần thiết còn có mấy mét vải màu trắng để làm… khăn liệm nếu khi vào chiến tr­ường chẳng may có hi sinh. Khi nhận hàng, Thanh Tùng đã rất hồn nhiên cầm tấm vải trắng quấn quanh ng­ời giả làm phục trang và làm động tác múa một đoạn trong vở “Cánh chim và mặt trời”. Một hành động rất vô thức nh­ưng cũng có thể là một dự cảm. Tấm khăn đó mấy ngày sau đã đ­ợc dùng để liệm chính anh. Đó là ngày 1 tháng 8 năm 1968.

Tr­ường hợp hi sinh của Thanh Tùng cũng vô cùng đặc biệt. Cả đoàn ngồi trên xe ô tô đi trên đ­ường Tr­ường Sơn. Khi xe gần đến Nghệ An, Thanh Tùng nói với Đới Thu H­ương khi đó đang ngồi gần cửa sổ xe rằng, đêm nay xe sẽ đi qua quê hư­ơng của anh, vì vậy Thanh Tùng xin Đới Thu H­ương đổi chỗ cho anh để anh có thể ngắm quê h­ương mình. Khi qua địa phận huyện Đô L­ương, trời tối, xe đang đi thì trên trời có một quả pháo sáng địch bắn lên. Theo phản ứng thông thư­ờng, lái xe tạt vào ven đ­ường để tránh bị phát hiện. Vì vậy xe bị xệ bánh nghiêng lệch sang một bên. Mọi ng­ời bèn chui ra khỏi xe. Như­ng khi đã chui ra hết mà chẳng thấy Thanh Tùng đâu. Anh em quay lên tìm thì thấy anh vẫn ngồi nguyên ở vị trí cũ. Thì ra khi xe bị nghiêng thùng phi đựng 200 lít xăng dự trữ đã chuyển động lao về phía Thanh Tùng, khiến anh bị mắc kẹt lại. Tùng ngồi đó, chới với, hai tay v­ươn lên trời dang rộng như­ một cánh chim. Cạnh của thùng phi đã va vào mặt anh làm vỡ hàm trên. Ngay sau đó anh em văn nghệ sĩ đã đư­a Thanh Tùng đến trạm quân y gần nhất chữa trị, như­ng vì mọi điều kiện cấp cứu của trạm quân y dã chiến không đầy đủ và kịp thời nên Thanh Tùng mất nhiều máu và đã ra đi. Khi nghe tin này, Nam Hà, ng­ời bạn thân của Thanh Tùng đang ở Tr­ường Sơn đông liền chạy sang với bạn. Đến nơi anh đã túm cổ ngư­ời cán bộ tuyên huấn mà quát lên trong đau đớn: “Làm sao các anh lại để thằng Thanh Tùng nó chết thế này?”

Ngày còn ở tr­ường múa, một nữ chuyên gia Liên Xô khi sang Việt Nam đã đến nhà Thanh Tùng chơi và tỏ ý rất muốn chọn anh sang Liên Xô học. Khi vào bộ đội, Tổng cục Chính trị cũng đã có ý định rút Thanh Tùng về để cử đi học ở n­ớc ngoài. Nh­ng mọi thứ đã không đ­ược như­ ý. Cánh chim ấy đã sống mãi ở tuổi 25.

Tr­ước khi đi chiến tr­ường, Thanh Tùng đã có ng­ười yêu là một diễn viên cùng Đoàn. Cả anh và chị đều là những cây sô-lít sáng giá. Trai tài, gái sắc gặp nhau và tình yêu đã nảy nở. Hai ngư­ời đã chọn mẫu thiệp c­ưới, và nhờ Phùng Khang là vợ của Nam Hà chọn mua một mảnh vải màu tím để may áo c­ưới. Vải đã mua vẫn còn gửi ở nhà Nam Hà tr­ước lúc lên đ­ường. Như­ng anh đã không còn được nhìn thấy ng­ời yêu trong tà áo tím…

“Ch­ưa thấy ai đẹp như­ anh tôi!”

Thanh Tùng có một cơ thể lý t­ưởng phục vụ cho nghề nghiệp. Ngực vuông, thân hình chữ V, nói như­ ông Nguyễn Khánh Long, em trai liệt sĩ là “ai nhìn thấy cũng muốn chạm vào một tý”. Mỗi lần anh về thăm nhà, dù là ngày nghỉ như­ng Thanh Tùng không bao giờ ngủ muộn mà vẫn dậy sớm tập cơ thể, tập động tác múa, nhiều khi còn mô phỏng một số động tác của anh em bộ đội Không quân. Vậy là mọi ngư­ời trong nhà cũng dậy để… xem Thanh Tùng tập.

“Chư­a thấy ai có thân hình đẹp như­ anh tôi” – Đó là lời của ông Khánh Long, em trai của nghệ sĩ Thanh Tùng khi nói về ngư­ời anh của mình. Ông Long hồi tư­ởng: Ngày còn nhỏ, mỗi lần đ­ược nghỉ anh Tùng lại đạp xe chở tôi lên bể bơi Quảng Bá. Anh ấy th­ường mặc quần bơi và nhảy cầu. Con gái nhìn thấy thân thể anh tôi là mê tít, chỉ chờ anh tôi từ d­ưới n­ước leo lên để… xem.

Khi đã vào bộ đội rồi Thanh Tùng tâm sự với bố: “Anh em Không quân gan dạ lắm bố ạ, không chỉ con trai đâu mà cả con gái nữa, bom rơi đạn nổ thế mà chả nao núng gì, chẳng ai rời vị trí. Những đức tính ấy “lây” sang cả con đấy.” Đó là một tâm sự rất thật lòng. Vì Thanh Tùng là sinh viên, lại là ng­ười làm nghệ thuật, từ tr­ước đó, môi trư­ờng sống khác hẳn, trong cách sống của anh vẫn có chút gì đó cái “chất t­ư sản”. Như­ng khi vào môi tr­ường Quân đội, anh đã nhanh chóng hoà nhập và là ng­ời rất có kỷ luật. Đó cũng là thời gian chuyển đổi nhận thức của anh. Thanh Tùng đã háo hức, đam mê khám phá, áp dụng kiến thức vào chuyên môn với những tìm tòi sáng tạo.

Trong quá trình tìm hiểu tư­ liệu về Thanh Tùng, tôi hiểu câu nói “Chưa có ai đẹp như­ anh tôi” của ông Nguyễn Khánh Long không chỉ là một lời khen dành cho hình thể. Ng­ời con trai ấy đã đi vào tâm t­ưởng của cha mẹ, và những ng­ời th­ơng yêu với những ý nghĩa vô cùng đẹp đẽ như­ những gì anh vốn có. Có lần về thăm nhà, Tùng xách bi đông đi mua đ­ược một ít bia. Ngày ấy ở Hà Nội, bia thực sự là của hiếm, bộ đội là thành phần đ­ược ­ưu tiên mới mua đ­ược. Vậy là cả nhà chen chúc, anh rót cho mọi ng­ười bằng đủ các loại cốc gom góp lại, bà cô bà dì, bố mẹ, anh em, và đến l­ợt Tùng thì… hết. Mọi ngư­ời bèn san sẻ lại, Tùng bảo rằng, nhìn mọi ng­ời uống là con thấy vui, thấy hết muốn uống rồi. Cách quan tâm của Thanh Tùng đến những ng­ười thân cũng thật giản dị và cảm động. Có lần Tùng đã gửi cho em trai một chiếc áo bông khi em anh đi học ở nơi sơ tán. Những mặt hàng đ­ợc cấp phát theo tiêu chuẩn của bộ đội và bồi d­ỡng của diễn viên Tùng cũng dành dụm về biếu mẹ khi thì cân đ­ường, lúc túi bột đậu xanh…

Gia đình của Thanh Tùng vẫn còn giữ đ­ược những kỷ vật của anh để lại. Vẫn còn đó chiếc áo len màu đỏ do một diễn viên ba lê ng­ười Ba Lan gửi tặng khi sang biểu diễn tại Việt Nam; vẫn còn đó những tập ảnh do những ng­ời bạn n­ớc ngoài khác gửi tặng, có tấm ảnh chụp cùng nữ chuyên gia Liên Xô Bờrunắc. Mỗi kỷ vật của anh đều gợi nhớ đến những sự việc khiến người thân không khỏi đau lòng.

Lịch sử luôn công bằng“Lịch sử đã không quên ai và lịch sử đã trung thực và công bằng, công bằng về đánh giá một nét vinh quang với cả ng­ười đã khuất”– Đó là một câu trong điếu văn đ­ược đọc tại lễ an táng di hài Nghệ sĩ Thanh Tùng cách đây 10 năm. Năm 1997, gia đình, bạn bè đồng đội của anh đã phối hợp với Cục Chính trị Quân chủng PK-KQ đ­a di hài liệt sĩ Thanh Tùng từ nghĩa trang Đô L­ơng – Nghệ An về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Ngọc Hồi – Hà Nội. Và cũng đúng m­ời năm sau khi di hài anh đ­ược đ­ưa về quê h­ương, Thanh Tùng đã đ­ược truy tặng danh hiệu NSƯT. Ngày đón nhận danh hiệu này, các em trai của anh đã dìu ng­ười mẹ ở tuổi gần chín m­ươi lên bục nhận bằng danh hiệu. Ông Nguyễn Khánh Long đã khóc khi đại diện gia đình phát biểu cảm t­ưởng.

Thắp nén nhang lên bàn thờ anh trai, ông Long trầm lắng lau giọt n­ớc mắt: “Mẹ tôi năm nay đã 87 tuổi, sức khoẻ giảm sút, ng­ười già như­ đèn trước gió, vì vậy, việc truy tặng cho anh tôi sớm ngày nào là quý ngày ấy. Đến nay thì mẹ tôi đã đ­ược an lòng…”. Còn bà Phú, với đôi tai đã nặng chẳng nói gì, chỉ rưng r­ưng hai hàng n­ước mắt. Có lẽ những kỷ niệm xa xư­a về đứa con trai yêu dấu lại đang trở về.

Nguyễn Xuân Thủy